THÀNH PHẦN CÔNG THỨC THUỐC
Mỗi lọ bột đông khô pha tiêm có chứa:
Thành phần hoạt chất: Methylprednisolon (dưới dạng methylprednisolon natri succinat) .............. 40 mg
Thành phần tá dược: Monobasic natri phosphat khan, dibasic natri phosphat khan.
DẠNG BÀO CHẾ
Bột đông khô pha tiêm.
Mô tả: Bột đông khô màu trắng đến vàng nhạt đựng trong lọ thủy tinh.
CHỈ ĐỊNH
Methylprednisolon natri succinat được chỉ định trong các trường hợp sau:
Rối loạn nội tiết:
- Suy vỏ thượng thận nguyên phát hoặc thứ phát (có thể kết hợp với mineralcorticoid khi cần thiết).
- Suy vỏ thượng thận cấp tính (có thể cần phải bổ sung mineralcorticoid).
- Sốc thứ phát do suy vỏ thượng thận, hoặc sốc không đáp ứng với liệu pháp điều trị quy ước ở những bệnh nhân đang có suy vỏ thượng thận (khi hoạt tính mineralcorticoid không tốt như mong đợi).
- Dùng trước phẫu thuật, hoặc khi có chấn thương nghiêm trọng hoặc bệnh nặng, ở bệnh nhân đã biết có suy vỏ thượng thận hoặc nghi ngờ thiếu hụt dự trữ hormon vỏ thượng thận.
- Tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh.
- Viêm tuyến giáp không sinh mủ.
- Tăng calci máu liên quan đến ung thư.
Rối loạn thấp khớp: (điều trị bổ trợ ngắn hạn để kiểm soát giai đoạn cấp tính hoặc đợt kịch phát):
- Viêm xương khớp sau chấn thương.
- Viêm màng hoạt dịch trong viêm xương khớp.
- Viêm khớp dạng thấp, kể cả viêm khớp dạng thấp ở thiếu niên.
- Viêm bao hoạt dịch cấp và bán cấp.
- Viêm mỏm lồi cầu xương.
- Viêm bao gân cấp không đặc hiệu.
- Viêm khớp cấp tính do gút.
- Viêm khớp vảy nến.
- Viêm cột sống dính khớp.
Bệnh hệ thống tạo keo và bệnh phức hợp miễn dịch (trong đợt kịch phát hoặc điều trị duy trì trong các trường hợp chọn lọc)
- Lupus ban đỏ hệ thống (và viêm thận lupus).
- Viêm tim cấp do thấp.
- Viêm da cơ toàn thân (viêm đa cơ).
- Viêm đa động mạch nút.
- Hội chứng Goodpasture.
Bệnh về da:
- Bệnh Pemphigus (bệnh bóng nước tự miễn trên da và niêm mạc.
- Hồng ban đa dạng thể nặng (hội chứng Stevens-Johnson).
- Viêm da tróc vảy.
- Vảy nến thể nặng.
- Viêm da bọng nước dạng Herpes.
- Viêm da tăng tiết bã nhờn thể nặng.
- U sùi dạng nấm.
Tình trạng dị ứng (dùng để kiểm soát các tình trạng dị ứng nặng hoặc khó chữa khi đã thất bại với các cách điều trị thông thường)
- Hen phế quản.
- Viêm da tiếp xúc.
- Viêm da dị ứng.
- Bệnh huyết thanh.
- Viêm mũi dị ứng theo mùa hoặc quanh năm.
- Các phản ứng quá mẫn với thuốc.
- Phản ứng mày đay khi truyền thuốc.
- Phù thanh quản cấp không nhiễm khuẩn.
Các bệnh về mắt (các quá trình viêm và dị ứng mạn tính và cấp tính nghiêm trọng ở mắt)
- Nhiễm khuẩn giác mạc do Herpes zoster.
- Viêm mống mắt, viêm mống mắt - thể mi.
- Viêm màng mạch - võng mạc.
- Viêm màng mạch nho khuếch tán phía sau và viêm màng mạch.
- Viêm thần kinh thị giác.
- Nhãn viêm giao cảm.
- Viêm tiền phòng.
- Viêm kết mạc dị ứng.
- Viêm loét kết mạc do dị ứng.
- Viêm giác mạc.
Bệnh tiêu hóa (giúp đưa bệnh nhân qua khỏi cơn nguy kịch của bệnh)
- Viêm loét đại tràng.
- Viêm đoạn ruột non.
Bệnh hô hấp
- Bệnh sarcoid có triệu chứng
- Ngộ độc berylii.
- Trong lao phổi lan tỏa hoặc bùng phát cấp tính (khi dùng đồng thời hóa trị liệu kháng lao thích hợp)
- Hội chứng Loeffler không thể kiểm soát được bằng các phương pháp khác.
- Viêm phổi hít.
- Viêm phổi từ trung bình tới nghiêm trọng do Pneumocystis jiroveci ở bệnh nhân AIDS (như điều trị bổ trợ khi dùng trong 72 giờ đầu tiên của liệu pháp khởi đầu chống Pneumocystis).
- Các đợt kịch phát của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD).
Rối loạn về máu
- Thiếu máu tan máu mắc phải (tự miễn).
- Xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn ở người lớn (chỉ tiêm tĩnh mạch, chống chỉ định tiêm bắp).
- Giảm tiểu cầu thứ phát ở người lớn.
- Chứng giảm nguyên hồng cầu (thiếu máu hồng cầu).
- Thiếu máu giảm sản bẩm sinh (dòng hồng cầu).
Các bệnh ung thư (điều trị tạm thời)
- Bệnh bạch cầu và u lympho ở người lớn.
- Bệnh bạch cầu cấp ở trẻ em.
- Để cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối.
Tình trạng phù
- Để giúp bài niệu hoặc giảm protein niệu trong hội chứng thận hư mà không kèm ure - huyết thuộc tuýp tự phát hoặc do lupus ban đỏ.
Hệ thần kinh
- Phù não từ khối u nguyên phát hoặc di căn hoặc do phẫu thuật hoặc xạ trị.
- Đợt kịch phát cấp tính của bệnh đa xơ cứng.
- Chấn thương tủy sống cấp tính. Cần bắt đầu điều trị trong vòng 8 giờ từ khi bắt đầu tổn thương.
Các chỉ định khác:
- Lao màng não có tắc nghẽn khoang dưới nhện hoặc dọa tắc khi dùng đồng thời hóa trị liệu kháng lao thích hợp.
- Bệnh giun xoắn liên quan đến thần kinh hoặc cơ tim.
- Cấy ghép nội tạng.
- Ngăn ngừa buồn nôn và nôn khi dùng hóa trị liệu chống ung thư.
LIỀU DÙNG, CÁCH DÙNG
Methylprednisolon natri succinat có thể tiêm hoặc truyền tĩnh mạch hoặc tiêm bắp.
Phương pháp được ưu tiên lựa chọn cho cấp cứu ban đầu là tiêm tĩnh mạch. Xem bảng 1 về các liều lượng khuyến cáo. Có thể giảm liều cho trẻ sơ sinh và trẻ em, nhưng cần chọn lựa dựa vào mức độ nghiêm trọng của bệnh và đáp ứng của bệnh nhân hơn là dựa vào tuổi và thể trọng của bệnh nhân. Liều lượng cho trẻ em không nên thấp hơn 0,5 mg/kg mỗi 24 giờ.
Bảng 1: Liều khuyến cáo đối với methylprednisolon natri succinat
Chỉ định | Liều dùng |
Điều trị bổ trợ cho các trường hợp đe dọa tính mạng | Tiêm tĩnh mạch 30 mg/kg trong thời gian ít nhất 30 phút . Có thể nhắc lại liều này 4-6 giờ mỗi lần cho tới 48 giờ |
Rối loạn thấp khớp không đáp ứng với phác đồ điều trị chuẩn (hoặc trong giai đoạn kịch phát) | Tiêm tĩnh mạch trong ít nhất 30 phút. Có thể lặp lại chế độ này nếu không có cải thiện sau 1 tuần điều trị, hoặc do tình trạng của bệnh nhân yêu cầu: 1 g/1 ngày, trong 1 - 4 ngày, hoặc 1 g/1 tháng, trong 6 tháng |
Lupus ban đỏ hệ thống không đáp ứng với phác đồ điều trị chuẩn (hoặc trong giai đoạn kịch phát) | Tiêm tĩnh mạch 1 g/1 ngày trong 3 hoặc 5 ngày trong ít nhất 30 phút. Có thể lặp lại chế độ này nếu không có cải thiện sau 1 tuần điều trị, hoặc do tình trạng của bệnh nhân yêu cầu. |
Đa xơ cứng không đáp ứng với phác đồ điều trị chuẩn (hoặc trong giai đoạn kịch phát) | Tiêm tĩnh mạch 1 g/1 ngày, trong 3 hoặc 5 ngày trong ít nhất 30 phút. Có thể lặp lại chế độ này nếu không có cải thiện sau 1 tuần điều trị, hoặc do tình trạng của bệnh nhân yêu cầu. |
Trạng thái phù như viêm cầu thận hoặc viêm thận do lupus không đáp ứng với phác đồ điều trị chuẩn (hoặc trong giai đoạn kịch phát) | Tiêm tĩnh mạch trong thời gian ít nhất 30 phút. Có thể lặp lại chế độ này nếu không có cải thiện sau 1 tuần điều trị, hoặc do tình trạng của bệnh nhân yêu cầu. 30 mg/kg cách nhật, dùng trong 4 ngà y hoặc 1g/ngày trong 3, 5 hoặc 7 ngày. |
Ung t hư giai đoạn cuối (để cải thiện chất lượng cuộc sống) | Tiêm tĩnh mạch 125 mg/ngày trong thời gian tối đa 8 tuần. |
Ngăn ngừa buồn nôn và nôn do hóa trị liệu về ung thư | Hóa trị gây nôn nhẹ và trung bình: Tiêm tĩnh mạch 250 mg trong ít nhất 5 phút vào 1 giờ trước hóa trị liệu. Nhắc lại liều methylprednisolon khi bắt đầu hóa trị liệu và vào lúc ngừng hóa trị liệu. Cũng có thể phối hợp với dẫn xuất clo của phenothiazin khi dùng liều đầu tiên của methylprednisolon để tăng hiệu lực chống nôn. Hóa trị liệu gây nôn nghiêm trọng: Tiêm tĩnh mạch 250 mg trong ít nhất 5 phút, phối hợp với liều thích hợp metoclopramid hoặc 1 butyrophenon 1 giờ trước hóa trị liệu, sau đó nhắc lại liều methylprednisolon lúc khởi đầu hóa trị liệu và vào lúc ngừng hóa trị liệu. |
Tổn thương tủy sống cấp tính | Điều trị nên bắt đầu trong vòng 8 giờ sau khi tổn thương. Với bệnh nhân bắt đầu điều trị trong vòng 3 giờ sau khi tổn thương: Tiêm tĩnh mạch 30 mg/kg trong thời gian 15 phút, rồi nghỉ 45 phút, sau đó truyền tĩnh mạch liên tục với liều 5,4 mg/kg/giờ trong 23 giờ. Với bệnh nhân khởi đầu điều trị trong vòng 3-8 giờ sau khi tổn thương: tiêm tĩnh mạch 30 mg/kg trong thời gian 15 phút rồi nghỉ 45 phút, sau đó truyền tĩnh mạch liên tục với liều 5,4 mg/kg/giờ, trong 47 giờ. Cần dành riêng một đường tĩnh mạch để bơm truyền. |
Viêm phổi do Pneumocystis jiroveci ở bệnh nhân AIDS | Liệu trình nên bắt đầu trong vòng 72 giờ trong điều trị khởi đầu chống Pneumocystis . Một chế độ có thể thực hiện là tiêm tĩnh mạch 40 mg 6-12 giờ mỗi lần cho đến tối đa là 21 ngày hoặc cho đến khi kết thúc quá trình điều trị pneumocystis . Do có tăng tốc độ hoạt hóa lại bệnh lao ở bệnh nhân AIDS, cần suy xét nên sử dụng các thuốc chống lao mỗi khi dùng corticosteroid cho các đối tượng có nguy cơ cao này. Cũng cần theo dõi bệnh nhân về khả năng mắc các nhiễm khuẩn tiềm tàng khác. |
Các đợt kịch phát của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) | Đã nghiên cứu 2 chế độ liều: Tiêm tĩnh mạch 0,5 mg/kg 6 giờ mỗi lần, dùng trong 72 giờ hoặc Tiêm tĩnh mạch 125 mg 6 giờ mỗi lần, dùng trong 72 giờ, rồi chuyển sang dạng corticosteroid uống và với liều giảm dần. Tổng thời gian điều trị nên ít nhất là 2 tuần. |
Điều trị hỗ trợ cho các chỉ định khác | Liều khởi đầu có thể thay đổi từ 10 mg tới 500 mg tiêm tĩnh mạch tùy thuộc vào điều kiện lâm sàng. Có thể cần đến liều cao hơn để điều trị ngắn ngày các tình trạng cấp tính và nghiêm trọng. Các liều khởi đầu lên t ới 250 mg cần tiêm tĩnh mạch trong thời gian ít nhất 5 phút, còn nếu dùng liều cao hơn thì tiêm trong thời gian ít nhất là 30 phút. Các liều tiếp theo có thể tiêm bắp hoặc tĩnh mạch theo các khoảng cách tùy theo đáp ứng của bệnh nhân và theo tình trạng lâm sàng. |
Để tránh các vấn đề khi phối hợp thuốc và đảm bảo độ ổn định của thuốc, nên tiêm methylprednisolon natri succinat ở những vị trí riêng biệt với vị trí tiêm các thuốc khác nếu được. Có thể tiêm theo các kiểu: bơm thuốc đường tĩnh mạch qua buồng tiêm (chamber) hoặc dùng dung dịch tiêm tĩnh mạch theo kỹ thuật ‘piggy-back’.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
- Bệnh nhân bị nhiễm nấm toàn thân.
- Quá mẫn với methylprednisolon hoặc với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
- Dùng theo đường nội tủy.
- Dùng theo đường ngoài màng cứng.
Chống chỉ định sử dụng vaccine sống hoặc vaccine sống giảm độc lực ở những bệnh nhân đang dùng các liều corticosteroid ức chế miễn dịch.
CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG KHI DÙNG THUỐC
Tác dụng ức chế miễn dịch/ tăng nguy cơ nhiễm khuẩn: Corticosteroid có thể làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, che lấp một số dấu hiệu nhiễm khuẩn và một số nhiễm khuẩn mới có thể xảy ra khi đang dùng corticosteroid. Việc ức chế phản ứng viêm và chức năng miễn dịch làm tăng tính nhạy cảm với các bệnh nhiễm khuẩn do nấm, virus và vi khuẩn và mức độ nghiêm trọng của chúng. Biểu hiện lâm sàng thường có thể không điển hình và có thể đến giai đoạn nặng trước khi được phát hiện.
Bệnh nhân đang sử dụng thuốc ức chế miễn dịch dễ bị nhiễm khuẩn hơn những người khỏe mạnh khác. Ví dụ ở trẻ em hay người lớn chưa có miễn dịch đang dùng corticosteroid khi mắc thủy đậu và sởi có thể bị nặng hơn và thậm chí tử vong.
Bệnh thủy đậu rất được quan tâm vì có thể gây tử vong ở những bệnh nhân bị ức chế miễn dịch. Bệnh nhân (hoặc cha mẹ của trẻ em) không có tiền sử rõ ràng về bệnh thủy đậu nên được khuyến cáo tránh tiếp xúc gần gũi với bệnh nhân thủy đậu hoặc herpes và nếu bị phơi nhiễm, họ nên tìm đến chăm sóc y tế khẩn cấp. Miễn dịch thụ động với huyết thanh miễn dịch varicella/zoster (VZIG) là cần thiết cho những bệnh nhân không có miễn dịch tiếp xúc đang dùng corticosteroid toàn thân hoặc những người đã sử dụng chúng trong vòng 3 tháng trước đó; thuốc này nên được tiêm trong vòng 10 ngày kể từ ngày tiếp xúc với bệnh thủy đậu. Nếu chẩn đoán bệnh thủy đậu được xác nhận, bệnh nhân cần được chăm sóc chuyên khoa và điều trị khẩn cấp. Corticosteroid không nên ngừng và có thể phải tăng liều.
Cần tránh tiếp xúc với bệnh sởi. Cần tìm kiếm lời khuyên y tế ngay lập tức nếu xảy ra phơi nhiễm. Có thể cần dự phòng bằng globulin miễn dịch tiêm bắp thông thường.
Tương tự, corticosteroid nên được sử dụng cẩn thận ở những bệnh nhân đã biết hoặc nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng như nhiễm giun lươn (giun chỉ), có thể dẫn đến bội nhiễm giun lươn và dẫn đến sự di chuyển lan rộng của ấu trùng, thường kèm theo viêm ruột nặng và nhiễm trùng huyết có khả năng gây tử vong do vi khuẩn Gram âm.
Không nên tiêm vaccine sống cho những người bị suy giảm khả năng đáp ứng miễn dịch. Phản ứng của kháng thể đối với các loại vaccine khác có thể bị giảm đi.
Sử dụng corticosteroid trong bệnh lao hoạt động cần giới hạn chỉ trong các trường hợp lao phổi lan tỏa hoặc thể bùng phát cấp tính mà trong đó corticosteroid được dùng để kiểm soát bệnh phối hợp với phác đồ kháng lao thích hợp.
Nếu corticosteroid được chỉ định ở người bệnh lao tiềm tàng hoặc phản ứng với tuberculin, cần theo dõi chặt chẽ vì bệnh có thể tái phát. Nếu dùng corticosteroid dài ngày, bệnh nhân cần được điều trị dự phòng bằng các thuốc kháng lao.
U Sarcom Kaposi (Kaposi’s sarcoma) đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị bằng corticosteroid. Ngừng sử dụng corticosteroid có thể sẽ thuyên giảm triệu chứng trên lâm sàng.
Mặc dù bột đông khô pha tiêm methylprednisolon không được chấp thuận ở Vương quốc Anh để sử dụng trong điều trị sốc, nên tuân thủ cảnh báo sau. Dữ liệu từ một nghiên cứu lâm sàng được thực hiện để xác định hiệu quả của bột đông khô pha tiêm methylprednisolon trong sốc nhiễm khuẩn, cho thấy tỷ lệ tử vong cao hơn xảy ra ở một nhóm nhỏ bệnh nhân tham gia nghiên cứu có nồng độ creatinin huyết thanh cao hoặc bị nhiễm khuẩn thứ phát sau khi bắt đầu điều trị. Do đó sản phẩm này không nên được sử dụng trong điều trị hội chứng nhiễm khuẩn hoặc sốc nhiễm khuẩn.
Vai trò của các corticosteroid trong sốc nhiễm khuẩn vẫn còn đang được tranh luận, các nghiên cứu gần đây cho thấy có cả tác dụng có lợi cũng như các ảnh hưởng bất lợi. Gần đây việc dùng corticosteroid bổ sung đã cho thấy là có lợi cho bệnh nhân được xác định là sốc nhiễm khuẩn và có suy giảm chức năng tuyến thượng thận. Tuy nhiên, không nên sử dụng thường xuyên liệu pháp này trong sốc nhiễm khuẩn. Một tổng quan hệ thống đã kết luận rằng điều trị các corticosteroid liều cao trong thời gian ngắn không mang lại tác dụng. Tuy nhiên, các phân tích gộp và một tổng quan đã cho thấy sử dụng corticosteroid liều thấp trong khoảng thời gian dài hơn (5-11 ngày) có thể giảm tỉ lệ tử vong, nhất là ở bệnh nhân bị sốc nhiễm khuẩn phải dùng thuốc co mạch.
Tác dụng trên hệ miễn dịch: Có thể xảy ra các phản ứng dị ứng. Vì các trường hợp dị ứng trên da và phản ứng phản vệ đã xảy ra ở bệnh nhân dùng corticosteroid với tần suất hiếm gặp, nên cần có những biện pháp phòng ngừa thích hợp trước khi dùng corticosteroid, đặc biệt khi bệnh nhân có tiền sử dị ứng với bất kỳ loại thuốc nào.
Tác dụng trên nội tiết: Bệnh nhân đang sử dụng corticosteroid mà phải chịu những căng thẳng bất thường, cần chỉ định dùng corticosteroid tác dụng nhanh với liều cao hơn trước, trong và sau khi bị stress.
Sử dụng corticosteroid ở liều có tác dụng dược lý trong thời gian kéo dài có thể dẫn tới ức chế trục dưới đồi - tuyến yên - thượng thận (HPA) (suy vỏ thượng thận thứ phát). Mức độ và thời gian suy vỏ thượng thận thứ phát khác nhau giữa các bệnh nhân và phụ thuộc vào liều, tần suất, thời điểm dùng thuốc và khoảng thời gian điều trị bằng glucocorticoid. Có thể giảm thiểu tác dụng này bằng liệu pháp điều trị cách nhật.
Ngoài ra, suy vỏ thượng thận cấp còn dẫn đến tử vong nếu dừng glucocorticoid đột ngột.
Ở những bệnh nhân đã dùng nhiều hơn liều sinh lý của corticosteroid toàn thân (khoảng 6 mg methylprednisolon) trong hơn 3 tuần, không nên ngừng thuốc đột ngột.
Do đó, có thể giảm thiểu nguy cơ suy vỏ thượng thận thứ phát do thuốc bằng cách giảm liều từ từ. Việc giảm liều nên được thực hiện như thế nào phụ thuộc phần lớn vào việc bệnh có khả năng tái phát khi giảm liều corticosteroid toàn thân hay không. Đánh giá lâm sàng về tiến triển của bệnh có thể cần thiết trong thời gian ngừng thuốc. Nếu bệnh không có khả năng tái phát khi ngừng điều trị bằng corticosteroid đường toàn thân, nhưng không chắc chắn về khả năng ức chế HPA, thì liều corticosteroid đường toàn thân có thể giảm nhanh xuống liều sinh lý. Sau khi đạt đến liều 6 mg methylprednisolon hàng ngày, nên giảm liều chậm hơn để trục HPA phục hồi.
Việc ngừng điều trị corticosteroid toàn thân đột ngột, kéo dài liên tục đến 3 tuần là thích hợp nếu xét thấy bệnh có khả năng tái phát. Việc ngừng đột ngột các liều lên đến 32 mg methylprednisolon hàng ngày trong 3 tuần không có khả năng dẫn đến ức chế trục HPA có liên quan về mặt lâm sàng ở đa số bệnh nhân. Ở các nhóm bệnh nhân sau, nên cân nhắc việc giảm dần liệu pháp corticosteroid toàn thân ngay cả sau các liệu trình kéo dài 3 tuần hoặc ít hơn:
• Bệnh nhân đã dùng nhiều lần corticosteroid đường toàn thân, đặc biệt nếu dùng trong hơn 3 tuần.
• Khi một liệu trình ngắn hạn đã được chỉ định trong vòng 1 năm kể từ khi ngừng điều trị dài hạn (vài tháng hoặc vài năm).
• Những bệnh nhân có thể có suy vỏ thượng thận ngoài liệu pháp corticosteroid ngoại sinh.
• Bệnh nhân dùng liều corticosteroid toàn thân lớn hơn 32 mg methylprednisolon mỗi ngày.
• Bệnh nhân dùng nhiều lần vào buổi tối.
Bệnh nhân nên mang theo thẻ 'Điều trị bằng steroid' có hướng dẫn rõ ràng về các biện pháp phòng ngừa cần thực hiện để giảm thiểu rủi ro và cung cấp thông tin chi tiết về người kê đơn, loại thuốc, liều lượng và thời gian điều trị.
Kiểu suy vỏ thượng thận này có thể tồn tại nhiều tháng sau khi ngừng điều trị, do đó trong thời gian này, nếu xảy ra bất kỳ trường hợp stress nào, nên bắt đầu sử dụng lại liệu pháp hormon.
“Hội chứng cai thuốc” steroid, không liên quan đến tình trạng suy vỏ thượng thận, có thể gặp sau khi ngừng đột ngột glucocorticoid. Hội chứng này gồm các triệu chứng như: chán ăn, buồn nôn, nôn, hôn mê, đau đầu, sốt, đau khớp, bong da, đau cơ, giảm cân và/hoặc hạ huyết áp. Những ảnh hưởng này được cho là do thay đổi đột ngột nồng độ glucocorticoid hơn là do nồng độ corticosteroid thấp.
Vì glucocorticoid có thể gây ra hoặc làm nặng thêm hội chứng Cushing, nên tránh sử dụng glucocorticoid trên những bệnh nhân Cushing.
Tác dụng của corticosteroid tăng lên trên những bệnh nhân thiểu năng tuyến giáp. Theo dõi bệnh nhân thường xuyên là cần thiết ở bệnh nhân thiểu năng tuyến giáp.
Tác dụng trên chuyển hóa và dinh dưỡng: Cần theo dõi thường xuyên bệnh nhân đái tháo đường (hoặc tiền sử gia đình có người mắc đái tháo đường). Các corticosteroid, bao gồm methylprednisolon, có thể làm tăng đường huyết, làm nặng hơn tình trạng đái tháo đường sẵn có, và có thể dẫn đến đái tháo đường trên những đối tượng sử dụng corticosteroid kéo dài.
Tác dụng trên tâm thần: Bệnh nhân và/hoặc người chăm sóc nên được cảnh báo về khả năng gặp các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng về tâm thần có thể xảy ra khi dùng steroid theo đường toàn thân (Xem phần Tác dụng không mong muốn). Nguy cơ có thể cao hơn khi dùng liều cao/đường toàn thân (Xem phần Quá liều và cách xử trí), mặc dù mức liều không cho phép dự đoán về sự khởi phát, loại, mức độ nghiêm trọng hoặc thời gian của phản ứng. Hầu hết các triệu chứng mất đi sau khi giảm hoặc dừng corticosteroid, mặc dù có thể cần phải điều trị đặc biệt. Bệnh nhân/ người chăm sóc nên lưu ý nếu các triệu chứng tâm thần tiến triển ở bệnh nhân, đặc biệt nếu nghi ngờ bệnh nhân bị trầm cảm hay có ý định tự tử. Bệnh nhân/ người chăm sóc nên được cảnh báo về những rối loạn tâm thần có thể xuất hiện trong khi điều trị hoặc ngay sau khi giảm liều/ ngừng dùng steroid toàn thân.
Cần đặc biệt thận trọng khi xem xét sử dụng corticosteroid toàn thân ở những bệnh nhân có tiền sử mắc các bệnh rối loạn ái lực nặng hiện tại hoặc trước đó hoặc có người thân mắc bệnh giai đoạn đầu. Các bệnh bao gồm bệnh trầm cảm hoặc hưng cảm và chứng rối loạn tâm thần do steroid trước đó.
Theo dõi bệnh nhân thường xuyên là cần thiết ở những bệnh nhân mắc hoặc có tiền sử rối loạn ái lực nặng (đặc biệt là rối loạn tâm thần do steroid trước đó).
Tác dụng trên hệ thần kinh: Nên thận trọng khi dùng corticosteroid trên những bệnh nhân bị rối loạn co giật. Theo dõi bệnh nhân thường xuyên là cần thiết ở bệnh nhân động kinh.
Nên thận trọng khi dùng corticosteroid trên những bệnh nhân nhược cơ nặng (xem thêm về bệnh cơ trong phần Tác dụng trên hệ cơ xương). Theo dõi bệnh nhân thường xuyên là cần thiết ở bệnh nhân động kinh.
Các biến cố y khoa nghiêm trọng đã được báo cáo là có liên quan đến đường dùng nội tủy/ ngoài màng cứng (xem phần Tác dụng không mong muốn).
Đã có các báo cáo về hiện tượng tích mỡ ngoài màng cứng ở những bệnh nhân dùng corticosteroid, điển hình là khi sử dụng liều cao kéo dài.
Tác dụng trên mắt: Rối loạn thị giác có thể được báo cáo khi sử dụng corticosteroid toàn thân và tại chỗ. Nếu bệnh nhân có các triệu chứng như nhìn mờ hoặc các rối loạn thị giác khác, bệnh nhân nên được chuyển đến bác sĩ nhãn khoa để đánh giá các nguyên nhân có thể xảy ra, bao gồm đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp hoặc các bệnh hiếm gặp như bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch (CSCR) đã từng được báo cáo sau khi sử dụng corticosteroid toàn thân và tại chỗ. Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch, có thể dẫn đến bong võng mạc.
Theo dõi bệnh nhân thường xuyên là cần thiết ở những bệnh nhân bị bệnh tăng nhãn áp (hoặc tiền sử gia đình bị bệnh tăng nhãn áp) và ở những bệnh nhân nhiễm Herpes simplex ở mắt, vì có nguy cơ thủng giác mạc.
Dùng corticosteroid kéo dài có thể làm đục thủy tinh thể dưới bao sau và đục thủy tinh thể ở trung tâm (đặc biệt ở trẻ em), lồi mắt hoặc tăng áp lực nội nhãn, có thể dẫn đến bệnh tăng nhãn áp đi kèm tổn thương thần kinh thị giác. Có thể tăng nguy cơ nhiễm nấm và virus thứ phát trên mắt ở bệnh nhân sử dụng corticosteroid.
Tác dụng trên tim: Tác dụng không mong muốn của glucocorticoid trên hệ tim mạch, như rối loạn lipid máu và tăng huyết áp, có thể khiến các bệnh nhân đã có sẵn nguy cơ tim mạch phải chịu thêm các ảnh hưởng tim mạch khác, nếu dùng liều cao và kéo dài. Vì vậy, corticosteroid nên được dùng thận trọng ở những bệnh nhân này, cần theo dõi sự thay đổi của các yếu tố nguy cơ và theo dõi chức năng tim thêm nếu cần thiết. Các biến chứng trong điều trị bằng coticosteroid có thể giảm khi sử dụng liệu pháp điều trị cách nhật và dùng liều thấp.
Sau khi tiêm nhanh các liều cao methylprednisolon natri succinat (hơn 500 mg trong thời gian dưới 10 phút), đã có báo cáo về rối loạn nhịp tim và/hoặc trụy mạch và/hoặc ngừng tim. Chậm nhịp tim đã được báo cáo trong hoặc sau khi dùng liều cao methylprednisolon natri succinat, và có thể không liên quan tới tốc độ và thời gian tiêm truyền.
Nên thận trọng khi dùng các corticosteroid toàn thân, và chỉ dùng khi thực sự cần thiết, trong trường hợp suy tim sung huyết.
Cần thận trọng đối với bệnh nhân dùng thuốc trợ tim như digoxin do khả năng gây rối loạn điện giải/mất kali do steroid (xem phần Tác dụng không mong muốn).
Theo dõi bệnh nhân thường xuyên là cần thiết ở những bệnh nhân bị suy tim sung huyết hoặc nhồi máu cơ tim gần đây (đã có báo cáo về vỡ cơ tim).
Tác dụng trên mạch: Cần dùng thận trọng corticosteroid ở những bệnh nhân cao huyết áp. Theo dõi bệnh nhân thường xuyên là cần thiết.
Huyết khối, bao gồm thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch, đã được báo cáo xảy ra khi dùng corticosteroid. Do đó, corticosteroid cần được sử dụng thận trọng ở bệnh nhân đang bị hoặc có thể có nguy cơ bị các rối loạn về huyết khối.
Tác dụng lên hệ tiêu hóa: Liều cao corticosteroid có thể gây viêm tụy cấp.
Không có quan điểm nào thống nhất về việc chính corticosteroid gây nên tình trạng loét đường tiêu hóa trong quá trình điều trị hay không, tuy nhiên, dùng glucocorticoid có thể che lấp những triệu chứng của loét đường tiêu hóa, gây nên tình trạng thủng hoặc xuất huyết tiêu hóa mà không kèm đau đớn rõ rệt. Trị liệu bằng glucocorticoid có thể che dấu viêm phúc mạc hoặc các dấu hiệu hay triệu chứng khác liên quan đến rối loạn ống tiêu hóa như thủng, tắc ruột hoặc viêm tụy.
Nguy cơ bị loét đường tiêu hóa tăng lên khi kết hợp với các thuốc chống viêm không steroid (NSAID).
Thận trọng khi dùng corticosteroid toàn thân ở những bệnh nhân có các tình trạng sau và cần theo dõi bệnh nhân thường xuyên: viêm loét đại tràng, áp-xe hay nhiễm khuẩn sinh mủ khác; viêm túi thừa, có chỗ nối ruột non mới, loét dạ dày.
Tác dụng lên gan mật: Tổn thương gan do dùng thuốc, như viêm gan cấp tính hoặc tăng enzym gan, có thể xảy ra do truyền methylprednisolon qua đường tĩnh mạch theo chu kỳ (thường với liều khởi đầu ≥ 1 g/ngày). Các trường hợp ngộ độc gan hiếm gặp đã được báo cáo. Thời gian phát bệnh viêm gan cấp tính có thể là nhiều tuần hoặc lâu hơn. Đã quan sát thấy các biến cố này biến mất sau khi ngưng điều trị. Do đó cần theo dõi thích hợp.
Tác dụng trên hệ cơ xương: Cần đặc biệt thận trọng khi cân nhắc sử dụng corticosteroid toàn thân ở bệnh nhân mắc bệnh nhược cơ hoặc loãng xương (phụ nữ sau mãn kinh đặc biệt có nguy cơ) và cần theo dõi bệnh nhân thường xuyên.
Loãng xương là tác dụng không mong muốn phổ biến, nhưng ít được phát hiện khi dùng glucocorticoid liều cao và kéo dài.
Rối loạn thận và tiết niệu: Cần thận trọng ở những bệnh nhân bị xơ cứng bì hệ thống vì có sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh xơ cứng bì thận khi dùng corticosteroid, bao gồm methylprednisolon. Do đó, huyết áp và chức năng thận (s-creatinin) nên được kiểm tra thường xuyên. Khi nghi ngờ có rối loạn tại thận, huyết áp cần được kiểm soát cẩn thận.
Nên thận trọng khi dùng corticosteroid đường toàn thân trên những bệnh nhân suy thận và cần theo dõi bệnh nhân thường xuyên.
Xét nghiệm: Liều trung bình hoặc cao của hydrocortison hoặc cortison có thể gây tăng huyết áp, giữ muối và nước và tăng thải trừ kali. Những tác dụng này ít gặp hơn với các dẫn xuất tổng hợp trừ khi dùng liều cao. Chế độ ăn hạn chế muối và bổ sung kali có thể cần thiết. Tất cả các corticosteroid đều làm tăng thải trừ calci.
Chấn thương, ngộ độc và các biến chứng phẫu thuật: Corticosteroid dùng toàn thân không được chỉ định, và do đó không nên dùng điều trị chấn thương sọ não. Một nghiên cứu đa trung tâm cho thấy tăng tỉ lệ tử vong tại thời điểm 2 tuần và 6 tháng sau chấn thương ở những bệnh nhân dùng methylprednisolon natri succinat so với những bệnh nhân dùng giả dược. Mối quan hệ nhân quả với việc điều trị bằng methylprednisolon natri succinat chưa được thiết lập.
Cảnh báo khác: Do các biến chứng khi dùng glucocorticoid phụ thuộc vào liều lượng và thời gian điều trị, cần cân nhắc lợi ích/ nguy cơ trên từng bệnh nhân về liều lượng và thời gian điều trị theo liều hàng ngày hay dùng cách nhật.
Điều trị đồng thời với các chất ức chế CYP3A, bao gồm các thuốc có chứa cobicistat, được cho là sẽ làm tăng nguy cơ mắc các tác dụng phụ toàn thân. Nên tránh phối hợp thuốc trừ khi lợi ích mang lại cao hơn nguy cơ gia tăng tác dụng không mong muốn khi dùng corticosteroid toàn thân, trong trường hợp này bệnh nhân cần được theo dõi về tác dụng không mong muốn của corticosteroid toàn thân (xem phần Tương tác, tương kỵ khi dùng thuốc).
Nên dùng liều thấp nhất có hiệu quả của corticosteroid để kiểm soát tình hình điều trị và khi có thể giảm liều nên giảm từ từ.
Cần thận trọng khi sử dụng aspirin và các thuốc chống viên không steroid phối hợp với corticosteroid.
Bệnh u tế bào ưa crom có thể gây tử vong đã được báo cáo sau khi sử dụng corticosteroid toàn thân. Với bệnh nhân nghi ngờ hoặc đã xác định là mắc bệnh u tế bào ưa crom, chỉ nên sử dụng corticosteroid sau khi đã tiến hành đánh giá lợi ích/ nguy cơ phù hợp.
Trẻ em: Cần theo dõi chặt chẽ sự tăng trưởng và phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ em sử dụng corticosteroid kéo dài.
Chậm tăng trưởng có thể gặp trên trẻ em sử dụng glucocorticoid kéo dài, hàng ngày, với liều chia nhỏ và việc sử dụng liệu pháp này nên hạn chế, chỉ nên dùng với các chỉ định khẩn cấp nhất. Liệu pháp glucocorticoid dùng cách nhật có thể tránh và giảm thiểu tác dụng không mong muốn này.
Trẻ sơ sinh và trẻ em sử dụng corticosteroid kéo dài có nguy cơ đặc biệt về tăng áp lực nội sọ.
Liều cao corticosteroid có thể gây viêm tụy ở trẻ em.
Phì đại cơ tim có thể phát triển sau khi dùng methylprednisolon cho trẻ sinh non, do đó cần tiến hành đánh giá chẩn đoán thích hợp, theo dõi chức năng và cấu trúc tim.
Natri: Mỗi lọ thuốc có chứa ít hơn 1 mmol natri (23 mg), có thể coi là “không chứa natri”.
SỬ DỤNG THUỐC CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ
Khả năng sinh sản: Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy là corticosteroid làm suy giảm khả năng sinh sản. Phụ nữ điều trị với corticosteroid có thể dẫn đến kinh nguyệt không đều.
Phụ nữ có thai: Khả năng đi qua nhau thai của corticosteroid khác nhau giữa các loại, tuy nhiên, methylprednisolon có đi qua nhau thai.
Sử dụng corticosteroid cho động vật mang thai có thể gây ra các bất thường về phát triển của bào thai bao gồm hở hàm ếch, chậm phát triển trong tử cung và ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của não. Không có bằng chứng cho thấy corticosteroid làm tăng tỷ lệ mắc các bất thường bẩm sinh, chẳng hạn như hở hàm ếch ở nam giới, tuy nhiên, khi sử dụng trong thời gian dài hoặc nhiều lần trong thời kỳ mang thai, corticosteroid có thể làm tăng nguy cơ chậm phát triển trong tử cung. Về lý thuyết, suy tuyến thượng thận có thể xảy ra ở trẻ sơ sinh sau khi tiếp xúc với corticosteroid trước khi sinh nhưng thường tự khỏi sau khi sinh và hiếm khi quan trọng về mặt lâm sàng. Trẻ sơ sinh là con của những bà mẹ đã dùng liều corticosteroid đáng kể trong quá trình mang thai phải được theo dõi và đánh giá cẩn thận về các dấu hiệu suy giảm chức năng tuyến thượng thận. Như với tất cả các thuốc, corticosteroid chỉ nên được kê đơn khi lợi ích cho mẹ và con lớn hơn nguy cơ. Tuy nhiên, khi corticosteroid là cần thiết, bệnh nhân có thai bình thường có thể được điều trị giống như chưa có thai.
Do những nghiên cứu về sinh sản trên người chưa được tiến hành đầy đủ với methylprednisolon natri succinat, nên thuốc này chỉ nên được dùng trong khi mang thai sau khi đã cân nhắc thận trọng về mặt lợi ích/nguy cơ cho mẹ và thai nhi.
Ở người, nguy cơ trẻ sinh ra bị nhẹ cân dường như liên quan đến liều dùng và có thể được giảm thiểu bằng cách dùng liều corticosteroid thấp hơn.
Đục thủy tinh thể được quan sát thấy ở những trẻ sơ sinh mà mẹ sử dụng corticosteroid kéo dài trong quá trình mang thai.
Phụ nữ cho con bú: Corticosteroid bài tiết một lượng nhỏ qua sữa mẹ, tuy nhiên, liều lên đến 40 mg methylprednisolon mỗi ngày không có khả năng gây tác dụng toàn thân ở trẻ sơ sinh. Chỉ nên dùng corticosteroid cho ngưởi mẹ đang nuôi con bú khi lợi ích mang lại cho mẹ vượt trội so với nguy cơ có thể gặp đối với con.
ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC LÊN KHẢ NĂNG LÁI XE, VẬN HÀNH MÁY MÓC
Chưa có đánh giá được một cách có hệ thống về ảnh hưởng của các corticosteroid tới khả năng lái xe và vận hành máy móc. Các tác dụng không mong muốn như hoa mắt, chóng mặt, rối loạn thị giác và mệt mỏi có thể gặp sau khi điều trị bằng corticosteroid. Nếu bị ảnh hưởng, bệnh nhân nên dừng lái xe hoặc vận hành máy móc.
TƯƠNG TÁC, TƯƠNG KỴ CỦA THUỐC
Methylprednisolon là cơ chất của enzym cytochrom P450 (CYP) và chủ yếu được chuyển hóa bởi enzym CYP3A4. CYP3A4 là enzym chính của hầu hết các phân họ CYP trong gan của người trưởng thành. Nó xúc tác cho quá trình 6β – hydroxy hóa steroid, giai đoạn I thiết yếu trong quá trình chuyển hóa cho cả corticosteroid nội sinh và tổng hợp. Cũng có rất nhiều chất khác cũng là cơ chất của CYP3A4, một số chất này (cũng như các thuốc khác) làm thay đổ sự chuyển hóa glucocorticoid bằng cách gây cảm ứng (điều hòa tăng) hoặc ức chế enzym CYP3A4.
Các chất ức chế CYP3A4 – Những thuốc ức chế hoạt tính CYP3A4 nhìn chung làm giảm độ thanh thải của gan và tăng nồng độ của các thuốc là cơ chất của CYP3A4 như methylprednisolon trong huyết tương. Nếu có các chất ức chế CYP3A4, nên chuẩn liều methylprednisolon để tránh bị ngộ độc steroid.
Chất cảm ứng CYP3A4 – Những thuốc gây cảm ứng CYP3A4 nhìn chung làm tăng độ thanh thải của gan, dẫn tới làm giảm nồng độ các thuốc là cơ chất của CYP3A4. Có thể cần phải tăng liều methylprednisolon khi dùng cùng các thuốc này để đạt được kết quả điều trị như mong muốn.
Các chất là cơ chất của CYP3A4 – Khi có mặt một cơ chất khác của CYP3A4, quá trình thanh thải qua gan của methylprednisolon có thể bị ảnh hưởng, do đó cần điều chỉnh tương ứng liều dùng của methylprednisolon. Có thể các tác dụng không mong muốn khi dùng riêng mỗi thuốc sẽ dễ xảy ra hơn khi dùng đồng thời các thuốc với nhau.
Những thuốc không có hiệu ứng qua trung gian CYP3A4 – Các tương tác và ảnh hưởng khác xảy ra với methylprednisolon được trình bày trong bảng 1.
Bảng 1 bao gồm những tương tác thuốc phổ biến hoặc quan trọng về mặt lâm sàng với methylprednisolon.
Bảng 1: Những tương tác/ảnh hưởng quan trọng của các thuốc hoặc hoạt chất với methylprednisolon.
Phân loại thuốc – Thuốc hoặc hoạt chất | Tương tác | Ảnh hưởng |
Kháng sinh nhóm macrolid TROLEANDOMYCIN
ISONIAZID NƯỚC ÉP BƯỞI CHÙM | Chất ức chế CYP3A4 | Chất ức chế CYP3A4. Nồng độ methylprednisolon có thể tăng trong huyết tương. Liều methylprednisolon có thể cần được chuẩn độ để tránh độc tính của steroid. Ngoài ra, methylprednisolon có khả năng tăng tốc acetyl hóa và độ thanh thải của isoniazid. |
Kháng sinh, thuốc kháng lao RIFAMPIN Thuốc chống co giật PHENOBARTBITAL PHENYTOIN | Chất cảm ứng CYP3A4 | Chất cảm ứng CYP3A4 Có thể xảy ra giảm nồng độ methylprednisolon trong huyết tương. Khi phối hợp thuốc có thể yêu cầu tăng liều methylprednisolon để đạt được kết quả mong muốn. |
Thuốc chống nôn APREPITANT FOSAPREPITANT Thuốc kháng nấm ITRACONAZOL KETOCONAZOL Thuốc kháng virus Các thuốc ức chế HIV – protease Thuốc tăng cường dược động học COBICISTAT Thuốc chẹn kênh calci DILTIAZEM Thuốc tránh thai (đường uống) ETHINYLESTRADIOL/ NOÉTHISTERONE Thuốc ức chế miễn dịch
| Chất ức chế CYP3A4 (và cơ chất) | Chất ức chế CYP3A4 (và là cơ chất) Sự thanh thải ở gan của methylprednisolon có thể bị ức chế hoặc cảm ứng, dẫn đến tăng hoặc giảm nồng độ methylprednisolon trong huyết tương. Có thể phải điều chỉnh liều lượng tương ứng. Tác dụng không mong muốn liên quan đến việc sử dụng một trong hai loại thuốc có thể có nhiều khả năng xảy ra hơn khi dùng riêng lẻ.
Cyclosporin
|
Thuốc chống co giật CARBAMAZEPIN | Chất cảm ứng CYP3A4 (và cơ chất) | Chất cảm ứng CYP3A4 (và cơ chất) Sự thanh thải ở gan của methylprednisolon có thể bị ức chế hoặc cảm ứng, dẫn đến tăng hoặc giảm nồng độ methylprednisolon trong huyết tương. Có thể phải điều chỉnh liều lượng tương ứng. Tác dụng không mong muốn liên quan đến việc sử dụng một trong hai loại thuốc có thể có nhiều khả năng xảy ra hơn khi dùng riêng lẻ. |
Thuốc ức chế miễn dịch CYCLOPHOSPHAMID TACROLIMUS | Cơ chất CYP3A4 | Cơ chất CYP3A4 Sự thanh thải ở gan của methylprednisolon có thể bị ức chế hoặc cảm ứng, dẫn đến tăng hoặc giảm nồng độ methylprednisolon trong huyết tương. Có thể phải điều chỉnh liều lượng tương ứng. Tác dụng không mong muốn liên quan đến việc sử dụng một trong hai loại thuốc có thể có nhiều khả năng xảy ra hơn khi dùng riêng lẻ. |
Thuốc chống đông (dạng uống) | Ảnh hưởng không qua trung gian CYP3A4
| Tác dụng của methylprednisolon trên thuốc chống đông đường uống có thể thay đổi tùy trường hợp. Đã có nhiều báo cáo về việc tăng cũng như giảm tác dụng của thuốc chống đông khi dùng chung với corticosteroid. Chính vì vậy, phải kiểm tra các chỉ số đông máu để duy trì tác dụng chống đông mong muốn. |
Chất kháng cholinergic
| Các corticosteroid có thể làm ảnh hưởng đến tác dụng của các thuốc kháng cholinergic
| |
| Các steroid có thể làm giảm tác dụng của các thuốc kháng cholinesterase dùng trong điều trị bệnh nhược cơ. | |
| Vì corticosteroid có thể làm tăng nồng độ glucose máu nên có thể phải điều chỉnh liều dùng của thuốc điều trị tiểu đường. | |
Thuốc ức chế Aromatase
| Aminoglutethimid gây ức chế tuyến thượng thận, có thể làm trầm trọng thêm các thay đổi về nội tiết do dùng glucocorticoid kéo dài. | |
NSAID (thuốc chống viêm không steroid)
|
| |
Các thuốc làm tăng thải kali | Khi dùng corticosteroid cùng với các thuốc làm tăng thải kali (ví dụ thuốc lợi tiểu) nên theo dõi chặt chẽ hiện tượng hạ kali máu ở bệnh nhân. Corticoid đối kháng với tác dụng lợi tiểu của thuốc lợi tiểu. Việc dùng chung corticosteroid với amphotericin B, các xanth i n hay các thuốc chẹn beta 2 cũng làm tăng nguy cơ hạ kali máu. |
Corticosteroid đối kháng với tác dụng hạ huyết áp của tất cả các thuốc hạ huyết áp.
Tăng nguy cơ hạ kali máu khi dùng corticosteroid cùng với glycosid tim.
Tác dụng của corticosteroid có thể giảm trong 3-4 ngày sau khi dùng mifepriston.
Tương kỵ: Để tránh vấn đề khi phối hợp thuốc và bảo đảm tính ổn định của thuốc, methylprednisolon natri succinat được khuyến cáo nên dùng đường tĩnh mạch riêng rẽ với các thuốc hoặc các chất khác dùng đường tĩnh mạch. Các thuốc không tương hợp về mặt vật lý với methylprednisolon natri succinat trong dung dịch bao gồm: allopurinol natri, doxapram hydrochlorid, tigecyclin, diltiazem hydroclorid, calci gluconat, vecuronium bromid, rocuronium bromid, cisatracurium besylat, glycopyrrolat, propofol.
TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA THUỐC:
Các tác dụng không mong muốn dưới đây đã được báo cáo với các đường dùng bị chống chỉ định sau: Nội tủy/Ngoài màng cứng: viêm màng nhện, rối loạn chức năng đường tiêu hóa/ rối loạn chức năng bàng quang, đau đầu, viêm màng não, liệt nhẹ hai chi dưới/ liệt hai chân, động kinh, rối loạn cảm giác.
Trong trường hợp thông thường, bột đông khô pha tiêm methylprednisolon được dùng ngắn hạn. Tuy nhiên, khả năng xảy ra các tác dụng không mong muốn do điều trị bằng corticosteroid nên được ghi nhận, đặc biệt khi đang sử dụng liệu pháp liều cao (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). Những tác dụng không mong muốn như vậy bao gồm:
Phân loại theo hệ cơ quan | Tần suất † | Tác dụng không mong muốn |
Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng | Không rõ | Nhiễm khuẩn (bao gồm tăng tính nhạy cảm và mức độ nghiêm trọng của nhiễm khuẩn với sự che giấu các triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng); Nhiễm khuẩn cơ hội; Bệnh lao thể không hoạt động tái phát (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc ); Viêm phúc mạc#. |
Các khối u lành tính, ác tính và không xác định (bao gồm cả u nang và polyp | Không rõ | Sarcoma Kaposi đã được báo cáo xảy ra ở những bệnh nhân đang điều trị bằng corticosteroid. Ngừng sử dụng corticosteroid có thể làm thuyên giảm bệnh về mặt lâm sàng. |
Rối loạn máu và hệ bạch huyết | Không rõ | Tăng bạch cầu |
Rối loạn hệ miễn dịch | Không rõ | Phản ứng quá mẫn với thuốc (phản ứng phản vệ, phản ứng dạng phản vệ) |
Rối loạn nội tiết | Không rõ | Hội chứng Cushing; suy tuyến yên (bao gồm ức chế trục dưới đồi-tuyến yên-thượng thận); Hội chứng ngừng thuốc steroid (bao gồm sốt, đau cơ, đau khớp, viêm mũi, viêm kết mạc, các nốt ngứa trên da và sụt cân). |
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng | Không rõ | Nhiễm toan chuyển hóa; Giữ natri; Giữ nước; Khả năng dung nạp glucose suy giảm; Giảm kiềm chuyển hóa do hạ kali máu; Rối loạn mỡ máu; Tăng nhu cầu insulin (hoặc thuốc hạ đường huyết đường uống ở bệnh nhân tiểu đường); Bệnh mỡ máu; Tăng cảm giác thèm ăn (có thể dẫn đến tăng cân); Tích mỡ ngoài màng cứng. |
Rối loạn tâm thần | Không rõ | Phản ứng tâm thần bao gồm rối loạn cảm xúc (bao gồm tâm trạng trầm uất, tâm trạng phấn khích, cảm xúc không ổn định, phụ thuộc thuốc, ý định tự tử), phản ứng loạn thần (bao gồm hưng cảm, ảo tưởng, ảo giác và tâm thần phân liệt), rối loạn hành vi, cáu kỉnh, lo lắng, rối loạn giấc ngủ và rối loạn chức năng nhận thức bao gồm lú lẫn và chứng hay quên đã được báo cáo đối với tất cả các loại corticosteroid. Phản ứng có thể xảy ra ở cả người lớn và trẻ em. Ở người lớn, tần suất các phản ứng nghiêm trọng được ước tính là 5% - 6%. Các tác động tâm lý đã được báo cáo khi ngừng sử dụng corticosteroid; tần số không xác định. |
Rối loạn hệ thần kinh | Không rõ | Tăng áp lực nội sọ (kèm phù gai [tăng áp lực nội sọ lành tính]; Động kinh; Chứng hay quên; Rối loạn nhận thức; Chóng mặt; Đau đầu |
Rối loạn mắt | Hiếm gặp | Nhìn mờ (Xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc ) |
Không rõ | Đục thủy tinh thể dưới bao sau; Lồi mắt; Tăng nhãn áp; Phù gai thị với tổn thương có thể xảy ra đối với dây thần kinh thị giác; Mỏng giác mạc hoặc màng cứng; Đợt cấp bệnh do virus hoặc nấm ở mắt; Hắc võng mạc trung tâm thanh dịch. | |
Rối loạn tai và tai trong | Không rõ | Chóng mặt |
Rối loạn tim | Không rõ | Suy tim sung huyết (ở bệnh nhân nhạy cảm); Loạn nhịp tim |
Rối loạn mạch | Không rõ | Cao huyết áp; Hạ huyết áp; Huyết khối |
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất | Không rõ | Nấc cụt; Nghẽn mạch phổi |
Rối loạn tiêu hóa | Không rõ | Loét đường tiêu hóa (có thể thủng do loét đường tiêu hóa và xuất huyết do loét đường tiêu hóa); Xuất huyết dạ dày; Thủng ruột; Viêm tụy; Viêm thực quản gây loét; Viêm thực quản; Nhiễm nấm Candida thực quản; Đau bụng; Chướng bụng; Tiêu chảy; Rối loạn tiêu hóa; Buồn nôn; Nôn; Miệng có vị khó chịu đặc biệt khi dùng thuốc nhanh. |
Rối loạn gan mật | Không rõ | Viêm gan†; Tăng enzym gan (ví dụ alanin aminotransferase tăng (ALT, SGPT), aspartat aminotransferase tăng (AST, SGOT)). |
Rối loạn da và các mô dưới da | Không rõ | Bầm máu; Teo da (da mỏng); Mụn; Phù mạch; Đốm xuất huyết; Da nổi vân; Giãn tĩnh mạch sâu; Giảm sắc tố da hoặc tăng sắc tố da; Rậm lông; Phát ban; Ban đỏ; Ngứa; Mày đay; Tăng tiết mồ hôi. |
Rối loạn cơ xương và các mô liên kết | Không rõ | Chậm tăng trưởng; Bệnh loãng xương; Yếu cơ; Hoại tử xương; Gãy xương bệnh lý; Teo cơ; Bệnh cơ; Bệnh khớp do thần kinh; Đau khớp; Đau cơ. |
Rối loạn hệ sinh sản và vú | Không rõ | Kinh nguyệt không đều; Mất kinh. |
Rối loạn chung và rối loạn tại vị trí dùng thuốc | Không rõ | Chậm lành vết thương; Phù ngoại biên; Phản ứng tại chỗ tiêm; Mệt mỏi; Khó chịu; Hội chứng cai thuốc - Giảm liều corticosteroid quá nhanh sau khi điều trị kéo dài có thể dẫn đến suy tuyến thượng thận cấp, hạ huyết áp và tử vong. Tuy nhiên, điều này áp dụng nhiều hơn đối với corticosteroid có chỉ định điều trị liên tục (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc ). |
Các chỉ số xét nghiệm/kiểm tra | Không rõ | Tăng áp lực nội nhãn; Giảm dung nạp carbohydrat; Giảm kali máu (Mất kali); Tăng calci niệu; Tăng phosphatase kiềm máu; Tăng ure máu; Giảm phản ứng với các xét nghiệm trên da* |
Các biến chứng do thủ thuật, chấn thương và ngộ độc | Không rõ | Đứt gân (Đặc biệt là gân Achilles); Gãy xương cột sống do chèn ép (gãy xương nén đốt sống) |
Hay gặp (≥ 1/100 đến < 1/10); Ít gặp ( ≥1/1000 đến < 1/100); Hiếm gặp (≥ 1/10000 đến < 1/1000); Không rõ (không thể ước tính tần suất từ dữ liệu có sẵn)
Viêm gan đã được báo cáo khi tiêm truyền thuốc qua tĩnh mạch (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc)
Viêm phúc mạc có thể là dấu hiệu hoặc triệu chứng tiêu biểu chính của rối loạn tiêu hóa như thủng ruột, tắc ruột hoặc viêm tụy (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc)
QUÁ LIỀU VÀ CÁCH XỬ TRÍ
Chưa gặp các hội chứng lâm sàng về quá liều cấp tính với corticosteroid. Báo cáo về độc tính cấp và/hoặc tử vong sau khi quá liều corticosteroid rất hiếm. Trong trường hợp quá liều, không có thuốc giải độc đặc hiệu mà chỉ điều trị hỗ trợ và điều trị triệu chứng. Methylprednisolon có thể thẩm tách được. Sau khi dùng quá liều kéo dài, khả năng ức chế tuyến thượng thận nên được đề phòng bằng cách giảm dần mức liều trong một khoảng thời gian. Trong trường hợp như vậy, bệnh nhân có thể cần được hỗ trợ trong bất kỳ đợt quá liều nào khác.
ĐẶC TÍNH DƯỢC LỰC HỌC
Nhóm tác dụng dược lý: Glucocorticoid; Mã ATC: H02AB04.
Methylprednisolon là corticosteroid có hoạt tính chống viêm lớn hơn prednisolon và cũng ít gây giữ nước và natri hơn prednisolon.
Methylprednisolon natri succinat có cùng tác dụng chuyển hóa và chống viêm như methylprednisolon. Khi dùng đường tiêm và với lượng đồng mol, thì cả 2 chất này đều tương đương về hoạt tính sinh học. Tiềm lực tương đối khi so sánh methylprednisolon natri succinat với hydrocortison natri succinat về tác dụng làm giảm lượng bạch cầu ái toan sau khi cùng tiêm tĩnh mạch, là ít nhất 4/1. Điều này cũng trùng khớp với tiềm lực tương đối khi so sánh hai chế phẩm này theo đường uống.
ĐẶC TÍNH DƯỢC ĐỘNG HỌC
Đặc tính dược động học của methylprednisolon tuyến tính, không phụ thuộc vào đường dùng.
Phân bố: Methylprednisolon được phân bố rộng rãi vào các mô, qua hàng rào máu não, và bài tiết qua sữa mẹ. Thể tích phân bố biểu kiến của thuốc là khoảng 1,4 L/kg. Khả năng gắn với protein huyết tương ở người xấp xỉ 77%.
Chuyển hóa: Methylprednisolon liên kết nhiều với protein huyết tương, chủ yếu với globulin và ít hơn với albumin. Chỉ corticosteroid không liên kết mới có tác dụng dược lý hoặc được chuyển hóa. Sự chuyển hóa xảy ra ở gan và thận ở mức độ thấp hơn. Ở người, methylprednisolon được chuyển hóa ở gan thành các chất chuyển hóa không hoạt tính: hầu hết thành 20α-hydroxymethylprednisolon và 20β-hydroxymethylprednisolon.
Chuyển hóa ở gan chủ yếu thông qua CYP3A4 (xem phần Tương tác, tượng kỵ của thuốc).
Methylprednisolon, cũng như nhiều cơ chất của CYP3A4 cũng có thể là một cơ chất của protein vận chuyển p-glycoprotein gắn ATP (ABC), ảnh hưởng đến sự phân bố trong mô và tương tác với các thuốc khác.
Thải trừ: Các chất chuyển hóa được thải trừ qua nước tiểu.
Thời gian bán thải trung bình của methylprednisolon từ 1,8 đến 5,2 giờ. Độ thanh thải toàn phần xấp xỉ 5-6 mL/phút/kg. Thời gian bán thải trung bình dao động từ 2,4 đến 3,5 giờ ở người trưởng thành khỏe mạnh bình thường và dường như không phụ thuộc vào đường dùng thuốc.
Độ thanh thải toàn phần sau khi tiêm methylprednisolon vào tĩnh mạch hoặc tiêm bắp cho người tình nguyện trưởng thành khỏe mạnh khoảng 15-16 L/giờ. Nồng độ đỉnh methylprednisolon trong huyết tương là 33,67 microgam/100 ml đạt được trong 2 giờ sau khi tiêm một liều 40 mg IM cho 22 nam tình nguyện viên trưởng thành.
QUY CÁCH ĐÓNG GÓI: Hộp 10 lọ x 40 mg.
ĐIỀU KIỆN BẢO QUẢN: Bảo quản trong bao bì kín, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30oC .
TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG CỦA THUỐC: Tiêu chuẩn nhà sản xuất.
HẠN DÙNG: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
TÊN, ĐỊA CHỈ CỦA CƠ SỞ SẢN XUẤT THUỐC:
GUJU PHARM. CO., LTD.
Địa chỉ: 5 Deokjeoljegi-gil, Jeongnam-myeon, Hwaseong-si, Gyeonggi-do, Republic of Korea (Hàn Quốc).